Bản sắc văn hóa người Dao

Đăng lúc: 08:35:17 10/12/2020 (GMT+7)

Người Dao là một bộ phận gắn bó khăng khít trong cộng đồng các dân tộc anh em xứ Thanh. Quá trình định cư và phát triển cho đến ngày nay, đồng bào đã tạo dựng nên một đời sống vật chất, tinh thần tương đối phong phú. Qua đó, góp phần làm phong phú bức tranh văn hóa giàu bản sắc xứ Thanh.

 176d3211206t49354l0.jpg
Phụ nữ dân tộc Dao trong trang phục và điệu múa truyền thống.

Đã có một số nghiên cứu về lịch sử hình thành các nhóm người Dao ở Thanh Hóa, trong đó, C. Robequain trong cuốn “Le Thanh Hoa” có ghi: “Người Mán (một tên gọi khác về dân tộc Dao) đến Thanh Hóa khoảng năm 1905. Lúc đó, vài gia đình Mán bỏ các làng Vĩnh Đồng và Kim Bôi (tỉnh Hòa Bình), nơi mà họ đã ở được hơn 30 năm và sau 4 ngày đi bộ họ đến ở làng Điền Hạ, tổng Điền Lư, châu Quan Hóa”. Theo thống kê dân số năm 1997, ở Thanh Hóa có 7.382 người Dao, thuộc hai nhóm Dao Quần Chẹt và Dao Đỏ. Trong đó, nhóm Dao Quần Chẹt định cư ở vùng núi thấp, tập trung ở các huyện Cẩm Thủy, Ngọc Lặc; nhóm Dao Đỏ định cư ở vùng núi cao Mường Lát. Một số tài liệu cũng chỉ ra, người Dao ở Thanh Hóa chủ yếu là Dao Quần Chẹt: “Đàn ông mặc quần áo không có gì đặc biệt, một áo dài và một áo thường là màu trắng, cắt theo kiểu Mường; vải khăn chít đầu thường là xanh lơ, tóc họ có cài lược. Riêng phụ nữ thì đều có giữ quần áo cổ truyền của họ rất kỳ lạ, mà họ may lấy bằng vải xanh mua ở chợ... Ngực có che một mảnh vải như cái yếm của phụ nữ Việt, nhưng thêu viền trắng... Đầu họ cạo trọc phía trước, tóc bôi sáp ong và mỡ, cuốn lại và chít khăn để giữ lấy. Cổ đeo nhiều vòng bạc và trên yếm có đeo 2 hình bán cầu rỗng bằng bạc”.

Trước đây, người Dao có tập quán canh tác luân canh, luân khoảnh. Nếu thu hoạch xong đất còn tốt, thì chờ cho khô cây cỏ, gốc rạ để đốt rẫy, rồi qua tết lại tra hạt. Những khoảnh nương đã bạc màu thì bỏ 5, 7 năm sau mới quay trở lại tiếp tục canh tác. Cũng do du canh du cư nên đời sống đồng bào phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, rất bấp bênh và thường thiếu đói. Về sau, người Dao vùng núi thấp đã chuyển canh tác lúa nước trên ruộng bậc thang. Từ đó, cuộc sống định canh định cư dần đi vào nền nếp, họ bắt đầu dựng bản, dựng nhà mang tính lâu dài. Đồng thời, việc sinh hoạt, sản xuất cũng có nhiều thay đổi và theo chiều hướng tích cực, nên cuộc sống cũng giảm bớt khó khăn, thiếu thốn. Đặc biệt, để phục vụ đời sống, đồng bào Dao đã sớm phát triển nhiều nghề truyền thống như, đan lát, ép dầu, rèn, làm đồ bạc, làm giấy, trồng tràm và nấu cao tràm.

Như nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, đời sống văn hóa – tinh thần của người Dao cũng khá phong phú và gắn liền với sản xuất nông nghiệp. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tín ngưỡng của người Dao là tín ngưỡng đa thần nguyên thủy. Đó là mọi vật đều có linh hồn và có nhiều loại ma, nhiều vị thần. Song, tín ngưỡng này cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo (tục ăn chay), Đạo giáo (bộ tranh thờ, các phép thuật trong lễ Cấp Sắc). Từng có dịp tìm hiểu về cộng đồng người Dao huyện Cẩm Thủy, chúng tôi đã được nghe nhiều chuyện thú vị về đời sống văn hóa – tín ngưỡng của đồng bào. Ví như câu chuyện Bàn Hồ kể về lai lịch, sự hình thành các nhóm Dao và quá trình di cư của họ. Đặc biệt, nó được người Dao nghi thức hóa thành Tết Nhảy (hay múa Rùa), nhằm mục đích cúng Bàn Vương và luyện tinh binh bảo vệ cuộc sống. Tết Nhảy là cách người Dao thể hiện ý niệm rằng, họ chưa bao giờ nguôi quên nguồn gốc và số phận lịch sử của dân tộc mình. Một số dòng họ Triệu, Bàn, Phùng, Dương (làng Bình Sơn, xã Cẩm Bình), vẫn còn duy trì nghi lễ này.

Đối với người Dao, tang ma là một lễ nghi đặc biệt quan trọng trong cuộc đời con người. Đồng bào quan niệm rằng, chết tức là vĩnh biệt mọi người ở chốn trần gian để về với tổ tiên ở thế giới bên kia. Vì vậy, vào buổi tối ngày thứ 2 của đám tang, thầy cúng sẽ cúng kể về nguồn gốc của người Dao và quá trình người Dao di cư từ Dương Châu (Trung Quốc) vào Việt Nam. Trên hành trình ấy, họ đã định cư trên mảnh đất bình yên để làm ăn, phát triển giống nòi. Đó có lẽ cũng là may mắn của dân tộc này, bởi trên thế giới từng không thiếu các dân tộc buộc phải dời bỏ đất tổ và mãi lang thang không tìm được chốn dừng chân. Vì thế, dù ý thức về nguồn gốc nhưng sự thật là họ chỉ mơ về đất tổ khi đã dời bỏ cuộc đời này sang thế giới bên kia. Và việc làm giỗ cũng là cách người sống tiễn đưa hồn người chết về quê cha đất tổ ở Dương Châu.

Người chết đi, kế tiếp họ là những người đang sống. Cho nên, trong lễ mãn tang người chết, người Dao thường kết hợp làm lễ Cấp Sắc cho một vài người trong dòng tộc. Lễ Cấp Sắc đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời người đàn ông. Được cấp sắc nghĩa là họ đã trưởng thành, đã có thể làm thầy, làm chỗ dựa vững chắc cho gia đình và được dòng họ, xóm làng tôn trọng. Do vậy, đây là nghi lễ lớn nhất cả về vật chất, tinh thần - tâm linh, nên được gia đình chuẩn bị hết sức cẩn thận. Cũng như Tết Nhảy, lễ Cấp Sắc là nghi lễ khá tốn kém. Người ta phải chuẩn bị đủ 3 con lợn, 40 lít rượu, 1,5 tạ gạo và 5 con gà, rồi mời 7 thầy cúng cúng suốt 2 ngày 2 đêm. Song đây là nghi lễ bắt buộc của người Dao nên vẫn được đồng bào ở một số nơi duy trì đến tận ngày nay. Cùng với những lễ nghi truyền thống trên, người Dao Quần Chẹt còn duy trì một số lễ hội đặc trưng dân tộc như lễ hạ điền (cầu mùa) vào tháng tư hay tết cổ truyền vào tháng 12 âm...

Ngày nay, đời sống vật chất và văn hóa – tinh thần của người Dao đã có nhiều thay đổi. Ví như nhà ở, trang phục của đồng bào hiện khá giống với người Kinh. Những bộ trang phục cổ truyền, nhất là của phụ nữ (gồm có áo dài, yếm, quần dài, dây lưng, xà cạp, khăn đội đầu và đồ trang sức bằng bạc) thường chỉ xuất hiện trong những lễ nghi, đám xá quan trọng của cộng đồng. Song, nhiều yếu tố bản sắc cũng vẫn được đồng bào duy trì chính trong các lễ nghi lớn như tết cổ truyền, tang ma, cưới hỏi, Cấp Sắc, Tết Nhảy... Bởi vậy, có thể nói, bản sắc văn hóa người Dao là một khúc nhạc mang nhiều âm hưởng thú vị, hòa trong bản nhạc cổ truyền các dân tộc xứ Thanh hiện nay.

Trích nguồn Báo Thanh Hóa

Truy cập
Hôm nay:
3069
Hôm qua:
8982
Tuần này:
30670
Tháng này:
166879
Tất cả:
1983417